Mạng lưới truyền thông toàn cầu đầu tiên: “Xa lộ tư duy”

Để hiểu rõ sự tăng trưởng bùng nổ của Internet, ta hãy cùng nhau nhìn lại quá trình tiến hóa của công nghệ truyền thông từ thuở ban sơ cho đến khi nó trở thành mạng lưới các máy tính kết nối với nhau trên toàn cầu mà ngày nay chúng ta gọi là Internet. Câu chuyện về truyền thông điện tử bắt đầu với điện tín có dây – một mạng lưới phát triển nhanh chóng trên toàn cầu, kết nối mọi người ở khắp nơi, bất chấp khoảng cách và đã làm thay đổi thế giới mãi mãi.

Tom Standage, trong cuốn sách The Victorian Internet (tạm dịch: Internet thời Victoria), đã nghiên cứu về điện tín có dây và rút ra một số điểm tương đồng đáng kinh ngạc giữa sự phát triển của mạng lưới truyền thông điện tử đầu tiên của thế giới và sự tăng trưởng của mạng Internet ngày nay. Standage đã nói về nguồn gốc của điện tín và hành trình tìm kiếm phương thức cung cấp thông tin nhanh hơn trong thời đại truyền thông còn phụ thuộc vào ngựa và tài cưỡi ngựa như sau:

Vào một ngày tháng 4 năm 1746, tại tu viện lớn dòng Carthusia ở Paris, khoảng 200 tu sĩ đứng xếp thành một hàng dài, mỗi người hai tay nắm đầu hai sợi dây sắt, mỗi sợi dài khoảng 8m, hai đầu còn lại do các tu sĩ đứng trước và đứng sau họ giữ. Cứ thế, họ xếp thành một hàng dài tới hơn 1km. Sau đó, Tu viện trưởng Jean-Antoine Nollet, một nhà khoa học nổi tiếng người Pháp, lấy ra một cục pin rồi bất ngờ nối nó với hàng tu sĩ, khiến tất cả đều bị điện giật.

Những “tu sĩ điện” này đã chứng minh một cách thuyết phục rằng điện có thể truyền tải một thông điệp (dù đau đớn) từ nơi này đến nơi khác ngay lập tức và như thế, nền móng cho một cuộc cách mạng truyền thông đã ra đời.

>>>>>Xem thêm: Quảng cáo cho thương hiệu hay quảng cáo cho sản phẩm?

Vào năm 1830, Joseph Henry (1797-1878), một nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ, giám đốc đầu tiên của Viện Smithsonian, đã đưa khái niệm này lên một tầm cao hơn. Ông đã cho thấy tiềm năng của nam châm điện trong truyền thông đường dài khi truyền một dòng điện qua một dây cáp dài hàng dặm để làm rung một chiếc chuông điện từ ở đầu bên kia. Samuel Morse (1791-1872), người phát minh ra mã Morse9, đã đưa khái niệm của Henry tiến xa thêm nữa và mang lại thành công thương mại cho nó: điện tín điện tử ra đời từ đây.

Năm 1842, Morse biểu diễn thành công việc truyền điện tín giữa hai phòng ủy ban tại Washington và Quốc hội đã biểu quyết phê duyệt việc đầu tư 30.000 đô-la để xây dựng đường dây điện tín thử nghiệm giữa Washington và Baltimore. Kết quả biểu quyết khá sát sao với 89 phiếu thuận, 83 phiếu chống và 70 phiếu trắng từ các đại biểu không muốn “mang tiếng lấy công quỹ ra để chi cho một chiếc máy mà họ chẳng hiểu gì”.

Tuy nhiên, bất chấp thái độ dè dặt này của các đại biểu, mạng lưới mới đã thành công vang dội và tăng trưởng với tốc độ phi thường: đến năm 1850, có hơn 12.000 dặm đường dây điện tín trên khắp Hoa Kỳ, hai năm sau đó, con số này đã tăng lên gấp đôi và mạng lưới dây kết nối được mở rộng trên toàn cầu.

Thay vì thời gian truyền tin tính theo tuần hay theo tháng quen thuộc, mạng lưới mới tuyệt vời này giờ đây đã có thể truyền đi tin tức từ những khoảng cách rất xa nhau gần như trong chớp mắt – điều không tưởng trước đó và thậm chí cho tới lúc nó thành hiện thực rồi mà vẫn có nhiều người băn khoăn không hiểu.

Dù đã nỗ lực nhưng các chính phủ đã thất bại trong việc kiểm soát phương tiện truyền thông mới cơ bản này. Những người ủng hộ coi nó là một cuộc cách mạng và ngày càng có nhiều người biết đến nó với tốc độ chóng mặt. Báo chí bắt đầu đưa được tin chỉ vài giờ thay vì vài tuần sau sự kiện xảy ra, người ta tán tụng về nó, sự lãng mạn nở rộ trên khắp các đường dây, các cặp vợ chồng kết hôn “trực tuyến”, những tay cá độ dùng nó để “ăn gian”. Và nó cũng đã làm biến đổi cách thức kinh doanh trên toàn cầu. Chỉ trong thời gian khoảng một thế hệ, điện tín đã làm thay đổi cơ bản cấu trúc xã hội.

Có điều nào trong những điều trên quen thuộc với bạn không?

Một bài báo trên tờ New York Times trong số ra thứ Tư ngày 14 tháng 9 năm 1852 đã mô tả mạng điện tín là “xa lộ tư duy” – tuy nhiên, nó khác xa so với cái danh xưng “siêu xa lộ thông tin” mà chúng ta dùng để gọi mạng lưới hiện đại ngày nay. Có chăng thì cuộc cách mạng thông tin được khơi mào bởi điện tín này giống một cuộc biến động văn hóa hơn là đại diện cho sự tăng trưởng bùng nổ của mạng Internet ngày nay.

Như vậy là điện tín đã cho con người thấy rằng họ có thể giao tiếp xuyên lục địa – thậm chí là xuyên đại dương – chỉ trong phạm vi một cái chớp mắt. Họ cảm nhận được sự gần gũi, gắn kết với nhau chưa từng có. Hệ thống điện tín đã được một số người ngợi ca là dấu hiệu cho hòa bình và sự đoàn kết: một mạng lưới dây có khả năng neo chặt các quốc gia, tín ngưỡng và văn hóa một cách không tưởng. Tất nhiên, có những người đã sử dụng mạng lưới này để tiến hành chiến tranh một cách hiệu quả hơn. Điện tín hẳn đã mở rộng chân trời ý tưởng và ước mơ cho con người thời đó, khiến họ choáng ngợp trước các cơ hội và tiềm năng thay đổi thế giới.

Đối với thông tin đường dài và mau lẹ, điện tín vẫn là lựa chọn duy nhất cho đến năm 1877, khi hai nhà phát minh cạnh tranh với nhau để trở thành người đầu tiên đưa ra một công nghệ mới khác có khả năng đưa thế giới truyền thông điện tử lên vị trí hàng đầu. Tên gọi của nó là điện thoại; còn các nhà phát minh ra nó là Elisha Gray và Alexander Graham Bell. Họ nộp đơn xin cấp phép bằng sáng chế chỉ cách nhau vài giờ – nhưng Bell đã nhanh chân hơn Gray và một cuộc chiến pháp lý nổi tiếng đã xảy ra sau đó.

Những lời nói đầu tiên được truyền vào điện thoại là giọng của Bell, nói chuyện với trợ lý nghiên cứu của mình, Thomas Watson, ở phòng bên cạnh. Ông chỉ đơn giản nói rằng: “Watson – sang đây – tôi muốn gặp anh.”

Các mạng lưới thời kỳ đầu

Câu chuyện Internet thực sự bắt đầu vào năm 1957, với sự xuất hiện của vệ tinh nhân tạo của Liên Xô. Nó báo hiệu việc người Mỹ đang rớt lại phía sau người Nga trong lĩnh vực công nghệ, từ đó thúc chính phủ Mỹ chi mạnh cho khoa học và công nghệ. Năm 1958, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thành lập ARPA10 – một cơ quan chuyên môn được thành lập với một mục tiêu cụ thể: đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ vượt trước đối thủ trong cuộc chạy đua công nghệ.

>>>>>Xem thêm: Báo giá và quy trình dịch vụ chạy quảng cáo Facebook

Vào tháng 8 năm 1962, Joseph Carl Robnett Licklider (1915-1990), một nhà khoa học máy tính, Phó chủ tịch Công ty Công nghệ Bolt Beranek & Newman, đã viết một loạt các thông báo thảo luận về khái niệm “Hệ thống Máy tính Thiên hà – Intergalactic Computer Network”. Đáng ngạc nhiên, ý tưởng đột phá của Licklider đã bao gồm gần như mọi thứ liên quan đến Internet ngày nay.

Vào tháng 10 năm 1963, Licklider được bổ nhiệm là Giám đốc các chương trình Khoa học hành vi, Chỉ huy và Điều khiển tại ARPA. Trong nhiệm kỳ hai năm của mình, ông đã thuyết phục được cơ quan này nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển các hệ thống máy tính và dù ông đã rời ARPA trước khi dự án dựa trên những lý thuyết của ông bắt đầu, nhưng hạt giống Mạng lưới Cơ quan với các Đề án Nghiên cứu Tân tiến (ARPANET) – tiền thân của Internet ngày nay – đã được ươm mầm.

Vào năm 1965, các nhà nghiên cứu đã nối một máy tính tại Phòng Thí nghiệm Lincoln thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) với một chiếc máy tính của Không quân Mỹ ở California. Lần đầu tiên, hai chiếc máy tính được kết nối với nhau bằng cách sử dụng thông tin chia theo “gói” được truyền qua một mạng lưới.

ARPA (sau đó được đổi tên thành Cơ quan với các Đề án Nghiên cứu Tân tiến thuộc Bộ Quốc phòng – DARPA – www.darpa.mil) đã bắt đầu dự án ARPANET vào năm 1966, tuyên bố rằng mạng lưới này sẽ cho phép các máy tính thuộc quyền sở hữu của chính phủ, các trường đại học và các viện nghiên cứu trên toàn nước Mỹ kết nối với nhau và chia sẻ các nguồn tài nguyên máy tính có giá trị. IBM và các công ty máy tính lớn khác vào thời điểm đó tỏ rõ thái độ hoài nghi, khẳng định chắc nịch rằng mạng lưới mà ARPA đưa ra không khả dụng.

ARPA vẫn không hề nản lòng và vào ngày 21 tháng 11 năm 1969, hai chiếc máy tính đầu tiên, một tại Đại học California Los Angeles, chiếc còn lại ở Viện nghiên cứu Stanford được kết nối với mạng lưới ARPANET còn non trẻ. Đến ngày 5 tháng 12 cùng năm, quy mô mạng lưới đã tăng gấp đôi khi 2 chiếc máy tính khác gia nhập dự án: một chiếc tại Đại học California Santa Barbara, một chiếc tại khoa Đồ họa thuộc Đại học Utah. Mạng lưới mới phát triển rất nhanh chóng. Đến năm 1971, 15 viện tại Mỹ được kết nối với ARPANET và đến năm 1974, con số này đã tăng lên 46 viện và mở rộng hơn nữa gồm cả các nút mạng tại nước ngoài như Hawaii, Na Uy và London.

>>>>>Xem thêm: giá dịch vụ chụp ảnh quảng cáo